Thứ Hai, 14 tháng 1, 2019

Mâu thuẫn trong việc xác định án phí thuận tình ly hôn - Mỗi tòa một quan điểm.

Chào mọi người! Trước khi đi vào bài viết, mình xin đưa ra một số thông tin nhỏ như sau:
Đây là một đề tài thuyết trình môn Tố tụng Dân sự trên lớp của mình. Nội dung giáo viên yêu cầu chỉ đơn giản là "Tìm các bản án hoặc tình huống có vấn đề bất cập, hạn chế hoặc mâu thuẫn trong cách giải thích các quy định của pháp luật tương ứng, tóm tắt và chỉ ra những mâu thuẫn đó. Tìm hiểu kinh nghiệm quy định pháp luật nước ngoài về vấn đề trên", Vậy nên bài viết này không phải là bài luận. Nội dung bài viết chỉ xoay quanh việc tìm bản án, trích đoạn mâu thuẫn trong các phán quyết của các tòa, trích đoạn bình luận của các tác giả khác, và thứ mình thấy hay ho nhất trong bài này đó là phần cuối cùng của bài viết: cách tính án phí dân sự của Nhật Bản trong cùng vấn đề được đề cập. Bài viết khá dài, mọi người hãy cân nhắc trước khi đọc.
---------------------------------------------------------------------------------------------------
MÂU THUẪN TRONG CÁCH TÍNH ÁN PHÍ THUẬN TÌNH LY HÔN
Cùng với sự ra đời của Bộ luật Tố tụng Dân sự và các văn bản pháp luật liên quan khác mà các vấn đề bất cập tồn tại trước đó đã dần được tháo gỡ. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng thực tế, lại nảy sinh một số vấn đề mới. Đơn cử là vướng mắc trong việc tính án phí trong các hoạt động tố tụng.
Trong các vụ án dân sự, án phí chính là chế tài, là công cụ thiết yếu góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân. Ngoài ra, án phí cũng tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước và cũng là “biện pháp kinh tế” làm giảm các tranh chấp không đáng có xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên, do chưa có tính thống nhất áp dụng quy định của pháp luật về án phí liên quan đến vấn đề thuận tình ly hôn nên đã gây ra một số hệ lụy trên thực tế.
Khái niệm về án phí được Bộ luật Tố tụng Dân sự 2014 quy định rất rõ ràng tại Điều 143 như sau:
-     Tiền tạm ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
-     Án phí bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
Sau đây là hai bản án thể hiện rõ bất cập của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn liên quan đến vấn đề tính án phí đối với trường hợp thuận tình ly hôn.

A. BẢN ÁN CÓ VƯỚNG MẮC:
v Bản án 1: Bản án 25/2017/HNGĐ-ST, V/v ly hôn giữa chị N và anh N (Ngày 16/06/2017, TAND Huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định).

v Bản án 2: Bản án 12/2017/HNGĐ-ST, V/v ly hôn, nuôi con chung (Ngày 30/08/2017, TAND Huyện Hướng Hóa, Tỉnh Quảng Trị)

Thuận tình ly hôn


B. TÓM TẮT BẢN ÁN:
1. BẢN ÁN 1:
Bản án 25/2017/HNGĐ-ST, V/v ly hôn giữa chị N và anh N (Ngày 16/06/2017, TAND Huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định).

v Tóm tắt bản án:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N – sinh năm 1978. Địa chỉ: tổ 6, thôn B, thị trấn N, huyện N,tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Trần Văn N – sinh năm 1976. Địa chỉ: tổ 6, thôn B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Nội dung vụ án:
-  Nguyên đơn là chị Phạm Thị N trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn N đã chung sống với nhau và có 02 con trước khi kết hôn. Ngày 08/12/ 2005 anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc do hai bên không hợp tính cách nhau, hay cãi vã nhau, anh không quan tâm gì đến vợ con, thậm chí khi chị đẻ con phải về nhà mẹ chị để đẻ, anh không trông nom gì đến chị và các con. Anh chị ly thân đã hai năm nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
+ Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Trần Thị Phương A (đã tự lập), cháu Phương U và cháu T đang ở với chị, khi ly hôn chị đề nghị được nuôi cả hai con và yêu cầu anh N góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị theo quy định của pháp luật.
+ Về tài sản, công nợ: chị không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Bị đơn là anh Trần văn N có bản tự khai ngày 11/4/2017 và tại phiên tòa trình bày thời gian kết hôn của anh chị như chị đã trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng không chung thủy và không tin nhau, anh chị đã ly thân từ năm 2014 đến nay. Nay chị xin ly hôn anh nhất trí. Về con chung anh chị có 03 con chung như chị đã trình bày. Khi ly hôn anh đề nghị được nuôi cả hai con không yêu cầu chị Phạm Thị N cấp dưỡng nuôi con vì anh làm cơ khí thu nhập mỗi tháng khoảng 5 triệu đồng. Nếu không được nuôi cả hai con thì anh nuôi một con nào cũng được. Về tài sản công nợ anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nhận định của Tòa án:
[1]. Chị phạm Thị N và anh Trần Văn N kết hôn tự nguyện có đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn N nên là cuộc hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống không mấy hòa thuận. Anh chị đã ly thân từ năm 2014 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị xin ly hôn, anh nhất trí. Xét cuộc hôn nhân khó tồn tại được do mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy chấp nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị.
[2]. Về con chung của anh chị là cháu Trần Thị Phương A đã tự lập, không phải nuôi dưỡng. Còn lại cháu T và cháu Phương U, cả anh và chị đều muốn nuôi cả hai con. Tuy nhiên anh bỏ nhà đi đã 2 năm nay không quan tâm đến con, cháu Phương U có nguyện vọng ở với mẹ, xét thấy để chị nuôi cả hai con sẽ đảm bảo tốt hơn cho các cháu vì vậy giao cả hai con cho chị Phạm Thị N nuôi dưỡng. Anh Trần Văn N có trách nhiệm góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị mỗi con là 700.000 đ/tháng kể từ tháng 6/2017 đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn N được quyền thăm con chung không ai được cản trở.
[3]. Về tài sản, công nợ đương sự không yêu cầu, Tòa án không xem xét.
[4]. Về án phí: chị Phạm Thị N phải nộp cả 75.000 đồng án phí ly hôn. Anh Trần Văn N phải nộp 75.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Trần Văn N.
2. Về án phí: chị Phạm Thị N nộp 75.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu tiền số 07211 ngày 05 tháng 4 năm 2017. Hoàn trả chị phạm Thị N 225.000 đồng tạm ứng án phí còn thừa. Anh Trần Văn N phải nộp 75.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

         2. BẢN ÁN 2:
       Bản án 12/2017/HNGĐ-ST, V/v ly hôn, nuôi con chung (Ngày 30/08/2017, TAND Huyện Hướng Hóa, Tỉnh Quảng Trị)

v Tóm tắt bản án:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích Th, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị;
Bị đơn: Anh Ngô Phan T, sinh năm 1974; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 4, xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký tạm trú: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; chỗ ở hiện nay: 1/12 đường P, khối A, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị;

Nội dung vụ án:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích Th trình bày:
+ Chị Th và anh T kết hôn với nhau tự nguyện năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi nhau, anh T uống bia, rượu về gây gổ vợ con, hiện vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng bảy tháng nay. Tình cảm vợ chồng đã mâu thuẩn trầm trọng nên chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
+ Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Ngô Phan Nguyễn V, sinh ngày 12/11/2009 và cháu Ngô Phan Bảo A, sinh ngày 24/6/2011. Nếu ly hôn chị Th có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Ngô Phan T trình bày:
+ Anh T và chị Th kết hôn với nhau là tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng đã sống ly thân khoảng bảy tháng nay và đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Th. Tại phiên tòa, nếu chị Th kiên quyết ly hôn thì anh T cũng đồng ý ly hôn.
+ Về con chung: Cả hai vợ chồng có hai con chung là cháu Ngô Phan Nguyễn V, sinh ngày 12/11/2009 và cháu Ngô Phan Bảo A, sinh ngày 24/6/2011. Nếu ly hôn, anh T có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nhận định của Tòa án:
[1]. Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy: […] Trong quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng đã mâu thuẩn và đã sống ly thân nhau đến nay khoảng bảy tháng. Tại phiên tòa chị Th vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T, anh T cũng đồng ý ly hôn nên cần áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình để công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Th và anh T.
[2]. Về con chung: Vợ chồng chị Th, anh T có hai con chung là: Ngô Phan Nguyễn V, sinh ngày 12/11/2009 và cháu Ngô Phan Bảo A, sinh ngày 24/6/2011. […] Xét về điều kiện, khả năng nuôi con của chị Th và anh T sau khi ly hôn để đảm bảo cho các cháu được phát triển trong điều kiện tốt, cần giao cháu Ngô Phan Bảo A cho chị Th còn giao cháu Ngô Phan Nguyễn V cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
[3]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Th và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về tài sản chung: Chị Th và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 3 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Th và anh T mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Th đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm, chị Th được trả lại 150.000 đồng tiền tạm ứng án phí.

QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 147, Điều 235, 266, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích Th và anh Ngô Phan T.
2. Về con chung: Giao cháu Ngô Phan Bảo A, sinh ngày 24/6/2011 cho chị Nguyễn Thị Bích Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Ngô Phan Nguyễn V, sinh ngày 12/11/2009 cho anh Ngô Phan T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Th và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bích Th và anh Ngô Phan T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích Th phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2014/0006908 ngày 12/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hoá, Quảng Trị. Chị Th được hoàn trả số tiền chênh lệch còn lại là 150.000 đồng; Anh Ngô Phan T phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

C. XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ:
Trong bản án số 1, dù không trực tiếp đề cập nhưng Tòa án đã áp dụng Công văn số 72/TANDTC-PC để tính án phí. Khi đó, án phí sẽ được tính như sau:
Đối với vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn thì áp dụng tương tự hướng dẫn tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án, cụ thể trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa và các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định).”
Như vậy, án phí đối thuận tình ly hôn sẽ được tính bằng: 300.000*25% = 75.000 (đồng) đối với mỗi bên.

Tuy nhiên, trên đây chỉ là một quan điểm áp dụng đối với việc tính án phí thuận tình ly hôn. Hiện nay, vẫn còn tồn tại một quan điểm khác đối với việc tính án phí thuận tình ly hôn ta sẽ xét sau đây.

Như ta đã thấy, khác với cách tính án phí như Tòa án ở bản án 1, trong bản án số 2 Tòa án đã tính án phí dựa theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: 5. Đối với vụ án hôn nhân và gia đình thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau: a) Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí”.
Như vậy, án phí đối thuận tình ly hôn sẽ được tính bằng: 300.000*50% = 150.000 (đồng) đối với mỗi bên.

Từ hai bản án trên, có thể nhận thấy trong thực tiễn xét xử đang tồn tại hai quan điểm về tính án phí trong trường hợp thuận tình ly hôn mặc dù cả bản án 1 và bản án 2 đều có nội dung gần như tương tự nhau. Vậy tại sao lại có tình trạng mâu thuẫn trong thực tiễn này? Đây cũng chính là vấn đề bất cập trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án với những nguyên nhân mình muốn đề cập đến sau đây.

Điều 150 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2014 không quy định về mức án phí cụ thể mà dẫn chiếu đến các văn bản hướng dẫn khác do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành.
Việc thi hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 (Nghị quyết số 326), các Tòa án địa phương áp dụng pháp luật về án phí trong trường hợp thuận tình ly hôn chưa thống nhất, còn nhiều quan điểm khác nhau.
Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn số 72/TANDTC-PC ngày 11/4/2017 về việc thống nhất áp dụng quy định về án phí trong vụ án hôn nhân (Công văn số 72). Theo đó, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các đơn vị Tòa án nhân dân tối cao tổ chức quán triệt tới các thẩm phán, thẩm tra viên, thư ký trong cơ quan, đơn vị mình và Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ để áp dụng thống nhất theo đúng hướng dẫn tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án (Nghị quyết số 01).
Cụ thể, trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa và các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định).
Căn cứ vào nội dung hướng dẫn như trên của Tòa án nhân dân tối cao thì khi nộp đơn khởi kiện trong một vụ án xin ly hôn, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí bằng với mức án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng. Nếu trong vụ án này, các đương sự thỏa thuận thuận tình ly hôn và các vấn đề khác trong vụ án trước khi mở phiên tòa (tức là hòa giải thành) thì mỗi bên (bên nguyên đơn và bên bị đơn) phải chịu 25% mức án phí quy định. Tổng mức án phí hai bên phải chịu là 50% mức án phí không giá ngạch.
Như vậy, trong trường hợp này, nếu tính theo mức án phí của Nghị quyết số 326, bên nguyên đơn (bên người nộp đơn khởi kiện) phải chịu 75.000 đồng án phí, bên bị đơn phải chịu 75.000 đồng án phí.
Tuy nhiên sau đó, hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về án phí thuận tình ly hôn đã vấp phải những quan điểm trái chiều, một trong những quan điểm đó là cho rằng ban hành Công văn 72/TANDTC-PC là trái luật.
Quan điểm này là của tác giả Huỳnh Minh Khánh (TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang), được đăng trên Tạp chí Dân chủ & Pháp luật - Cơ quan ngôn luận của Bộ Tư Pháp. Theo đó, tác giả cho rằng vì Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2014 có giá trị pháp lý cao nhất trong các văn bản liên quan vì thế các công văn, pháp lệnh hay hướng dẫn đều phải phù hợp và không được trái với quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự như trong thực tế đang tồn tại.
Việc hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao như Công văn số 72 là chưa đúng với tinh thần của Nghị quyết số 326 và chưa phù hợp với các quy định pháp luật vì Nghị quyết số 01 là văn bản hướng dẫn Pháp lệnh số 10, trong khi đó, giữa Pháp lệnh số 10 và Nghị quyết số 326 có quy định khác nhau nên không thể lấy Nghị quyết số 01 để hướng dẫn Nghị quyết số 326 được. Từ những bất cập, vướng mắc như đã nêu trên, thiết nghĩ Tòa án nhân dân tôi cao cần thu hồi Công văn số 72.”
Thành ra đến tận bây giờ, nhiều Tòa án vẫn chưa thể thống nhất được việc tính án phí dân sự trong trường hợp thuận tình ly hôn là phải áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 hay phải áp dụng theo Công văn số 72. Qua 2 bản án trên thì ta đã thấy rõ điều này.

D. TÀI LIỆU SƯU TẦM LIÊN QUAN:
1. Các quy định trong pháp luật Việt Nam
v Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017:
“Điều 27. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong một số loại việc cụ thể
5. Đối với vụ án hôn nhân và gia đình thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau:
a) Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí;”

v Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
Điều 147. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm
4. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm.”

v Công văn số 72/TANDTC-PC ngày 11/4/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc thống nhất áp dụng quy định về án phí trong vụ án ly hôn:
“Ngày 30-12-2016, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trong quá trình triển khai thực hiện, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh vướng mắc về việc xác định án phí trong trường hợp các đương sự thuận tình ly hôn khi giải quyết vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Để bảo đảm áp dụng thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm”.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí”.
Quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 là kế thừa, giữ nguyên quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Do không có sự thay đổi về nội dung của luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chưa có hướng dẫn khác nên đối với vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn thì áp dụng tương tự hướng dẫn tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án, cụ thể trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa và các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định).
Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các đơn vị Tòa án nhân dân tối cao sau khi nhận được Công văn này cần tổ chức quán triệt tới các Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trong cơ quan, đơn vị mình và Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ để áp dụng thống nhất. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc hoặc có đề xuất, kiến nghị thì phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn kịp thời.”

v Khoản 11 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án:
Điều 27. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm
11. Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí quy định.”

v Khoản 2 Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án:
Điều 16. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại khoản 11 Điều 27 của Pháp lệnh
2. Trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 90 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì được xem là các bên đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hoà giải trước khi mở phiên tòa theo quy định tại khoản 11 Điều 27 của Pháp lệnh và các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định).”

        2. Bài viết liên quan:
v Bài viết: Hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về án phí thuận tình ly hôn có trái luật? của tác giả Huỳnh Minh Khánh (Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang).
“Pháp lệnh số 10 ban hành là văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, những quy định về án phí thuận tình ly hôn tại Pháp lệnh số 10 phải đảm bảo đầy đủ, đúng với đạo luật gốc (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004) nhưng Pháp lệnh số 10 lại bỏ sót quy định “trong trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm” do đạo luật gốc quy định. Vậy việc bỏ sót này là một sai sót lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc áp dụng án phí thuận tình ly hôn trong thời gian dài, nó dẫn đến việc công tác thi hành án dân sự vốn đã quá tải, càng trở nên quá tải hơn, mặt khác, với quy định này đã làm tốn kém chi phí thi hành án, tốn kém chi phí hoàn tiền tạm ứng cho đương sự, làm thất thoát khoản thu vào ngân sách nhà nước. Nghị quyết số 326 được ban hành đã bảo đảm được sự phù hợp, tuy nhiên, do một số người thực thi pháp luật chưa nắm vững pháp luật nên còn lúng túng, chưa thống nhất quy định này, nên Tòa án nhân dân tối cao đã vội vàng ban hành Công văn số 72 để hướng dẫn.
Việc hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao như Công văn số 72 là chưa đúng với tinh thần của Nghị quyết số 326 và chưa phù hợp với các quy định pháp luật vì Nghị quyết số 01 là văn bản hướng dẫn Pháp lệnh số 10, trong khi đó, giữa Pháp lệnh số 10 và Nghị quyết số 326 có quy định khác nhau nên không thể lấy Nghị quyết số 01 để hướng dẫn Nghị quyết số 326 được. Từ những bất cập, vướng mắc như đã nêu trên, thiết nghĩ Tòa án nhân dân tôi cao cần thu hồi Công văn số 72; đồng thời khẩn trương nghiên cứu văn bản hướng dẫn về trường hợp này theo hướng “trong trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí” phù với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326” (Hết trích).

      3. Các quy định trong pháp luật nước ngoài:
Quy định pháp luật Nhật Bản về vấn đề thuận tình ly hôn:
Thủ tục ly hôn tại Nhật Bản tồn có bốn bước như sau:
1. Thuận tình ly hôn (協議離婚)
Ở Nhật hiện nay, đến 90% các vụ ly hôn được tiến hành thông qua những cuộc nói chuyện giữa người chồng và người vợ (thuận tình ly hôn). Cả vợ, chồng đồng ý kí vào tờ đơn ly hôn và nộp cho văn phòng quận (市役所 区役所) hoặc văn phòng thành phố (市役所) nơi hai bên đã thỏa thuận. Thủ tục để tiến hành thuận tình ly hôn tại Nhật Bản hiện nay hết sức đơn giản. Thời gian xử lý hồ sơ hết sức nhanh chóng. Đối với một yêu cầu thuận tình ly hôn có thể chỉ tốn vài phút để tiến hành công nhận.
Nếu có một bên vợ hoặc chồng không đồng ý thì dù với bất cứ lý do nào kể cả ngoại tình, bạo lực… cũng không thể ly hôn.
Chi phí: Về cơ bản thuận tình ly hôn không tốn bất kỳ khoản phí nào.
(Trích: 協議離婚は夫婦間での話し合いで離婚を決めますので、基本的に費用はかかりません” - Theo bài viết của Luật sư Koji Umezawa thuộc Công ty Luật Mai Sogo)

2. Hoà giải ly hôn (調停離婚)
            Khi 2 vợ chồng không tìm được sự nhất trí về việc ly hôn thì sẽ hội ý tại nơi hoà giải của toà án gia đình. Phải thông qua bộ phận hoà giải này thì mới kiện lên toà án được.
Chí phí: 1200 yên + chi phí tem thư
Cơ sở pháp lý: Hàng (15)-2, Bảng 1, Đạo Luật về chi phí Tố tụng dân sự (Đạo luật 40 năm 1971)  (家事事件手続法 法令番号:平成二十三年法律第五十二号)
Row
Left column
Right column
(15)-2
The filing of adjudication of any of the matters listed in appended table 2 of the Domestic Relations Case Procedure Act, conciliation of a case prescribed in Article 244 of said Act or a petition for the case seeking the return of child prescribed in Article32, paragraph(1) of the Act for Implementation of the Convention on the Civil Aspects of International Child Abduction, or an application for intervention under the provisions of these Acts (limited to the cases of intervention as the petitioner)
1,200 yen

Dịch sơ lược: (15)-2: Nếu đơn khởi kiện yêu cầu xét xử bất kỳ vấn đề nào được liệt kê trong bảng 2 của Đạo luật về Tố tụng đối với các trường hợp liên quan đến quan hệ gia đình (Đạo luật 52, năm 2011), hòa giải một vụ kiện thuộc Điều 244 của Đạo luật trên… thì phải trả 1200 yên.

3. Trọng tài ly hôn (審判離婚)
            Khi không hoà giải được tại nơi hoà giải của toà án gia đình nữa thì chủ toạ sẽ làm trọng tài và quyết định cho ly hôn. 
Chi phí: Khoảng 2000 yên
4. Phán quyết ly hôn (判決離婚)
            Khi hoà giải kết thúc mà không có kết quả, việc ly hôn sẽ được giải quyết thông qua quyết định của toà án. 
Chi phí: Chi phí sẽ tăng theo số yêu cầu giải quyết của đương sư. Thông thường giao động khoản 13.000 yên (chưa tính tem thư và các khoản chi phí khác)

            Vậy là, pháp luật Nhật Bản và Việt Nam xét cả về chi phí lẫn thủ tục giải quyết thuận tình ly hôn đều khác nhau. Nhưng ta có thể thấy được rằng, pháp luật Nhật Bản tạo nhiều thuận lợi trong quá trình giải quyết thuận tình ly hôn hơn so với pháp luật Việt Nam.

Nhìn nhận lại vấn đề dưới gốc độ pháp luật Việt Nam, việc tính mức tạm ứng án phí, án phí là công việc thường xuyên của Tòa án. Tuy nhiên vì các quy định còn chồng chéo và chưa rõ ràng mà cho đến nay các quan điểm vẫn chưa thống nhất với nhau. Việc này dẫn đến hậu quả mỗi Tòa án quyết định mức án phí khác nhau, gây thất thoát cho khoản thu vào của nhà nước cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự. Thiết nghĩ những vướng mắc này cần được chú ý và tháo gỡ sớm bằng việc đưa ra một văn bản thống nhất nhằm nhanh chóng khắc phục và chấm dứt tình trạng giải quyết theo quan điểm hiện nay của các Tòa án địa phương.
                                                                                                        
                                                                                                          Kenji

Một số bất cập, hạn chế còn tồn đọng khi bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế.

Mặc dù quy định về bảo hiểm y tế bắt buộc đã có hiệu lực từ lâu (Luật bảo hiểm y tế 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014) nhưng đến nay, sau khi nhìn nhận lại, tôi nhận thấy được một số bất cập khi bắt buộc trong việc tham gia Bảo hiểm y tế như sau:

I. Bảo hiểm y tế bắt buộc - Hợp hiến, hợp pháp nhưng không hợp lý
Về quy định bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế, các văn bản pháp luật hiện hành của nước ta có quy định như sau:
 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014):
“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.”

          - Việc bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế còn được nêu rõ trong Hiến pháp 2013:
"Điều 38 
1. Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh."

          - Và để củng cố hai quy định trên, Hiến pháp 2013 cũng quy định rõ rằng:
“Điều 14
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

Qua ba quy định trên, ta có thể hiểu rằng công dân[1] (Thuộc Điều 12. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014) bắt buộc phải tham gia bảo hiểm y tế dù cho ý chí của họ không hề mong muốn. Và nếu không tham gia, công dân đó sẽ bị xem là đã vi phạm pháp luật.
Bây giờ, ta phải thừa nhận một điều rằng dù là ép buộc nhưng việc bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế này là hợp hiến và hợp pháp. Tuy nhiên, hãy để những quy định bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế nói trên qua một bên, ta sẽ khai thác một khía cạnh khác của vấn đề: Công dân mất gì khi bị bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế[2]? – Công dân đã mất đi Quyền tự do ý chí.

Để hiểu rõ về vấn đề này, ta hãy liên tưởng đến những hoạt động đơn giản nhất. Hằng ngày, mọi người đều có quyền tự do ý chí quyết định trong các hoạt động như mua sắm, đầu tư, tiết kiệm cho tương lai,… Quyền tự do ý chí này chính là Quyền con người (Human Rights) – một thuật ngữ được sử dụng trong Công pháp quốc tế. Việt Nam hiện nay đã tham gia ký kết hai công ước quốc tế liên quan đến Quyền con người gồm: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966, có hiệu lực ngày 23/3/1976)  Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966, có hiệu lực từ ngày 3/01/1976) và tại các diễn đàn đối thoại về Quyền con người thì Việt Nam luôn luôn lên tiếng về việc tôn trọng cũng như đảm bảo thực thi nghiêm túc những quyền này. Cho nên ta có thể khẳng định rằng Quyền tự do ý chí trong lựa chọn là một quyền bất khả xâm phạm đối với mọi công dân Việt Nam.

Trong pháp luật Dân sự, tự do ý chí cũng chính là nguyên tắc cốt lõi của hợp đồng. Vì sao tôi lại dẫn chiếu từ Công pháp quốc tế sang đến tận Bộ luật Dân sự Việt Nam? Bởi vì quyền tự do dân sự chính là quyền con người. Thế nên tất cả những chủ thể khác phải tôn trọng quyền tự do này của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, có một vấn đề được đặt ra sau đó: Liệu Bảo hiểm y tế có chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự? Xin thưa rằng: Có chịu sự điều chỉnh bởi vì bảo hiểm y tế chính là hợp đồng dân sự. Để chứng minh điều này, ta cùng đi vào phân tích:
+ Bàn rõ về Bảo hiểm y tế bắt buộc, quy trình để được sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bằng Thẻ bảo hiểm y tế được tóm tắt như sau: Tổ chức Bảo hiểm xã hội ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh BHYT với cơ sở y tế (Điều 7, Thông tư số 41/2014/TTLT-BYT-BTC); sau đó công dân tiến hành đóng tiền tại tổ chức bảo hiểm y tế để được cấp thẻ bảo hiểm y tế để làm căn cứ hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế (Luật bảo hiểm y tế 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014); cuối cùng khi có nhu cầu khám chữa bệnh, công dân chỉ cần đến cơ sở khám chữa bệnh để được hưởng dịch vụ khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật. 
+ Và việc đăng ký Thẻ bảo hiểm y tế giữa công dân và Tổ chức Bảo hiểm chính là một hợp đồng dân sự bởi đây là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập nghĩa vụ dân sự (VD: Nghĩa vụ bên Tổ chức Bảo hiểm là phải chi trả số tiền khám chữa bệnh cho công dân theo đúng quy định của pháp luật), thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Tổ chức Bảo hiểm có quyền đình chỉ thẻ BHYT trong trường hợp bên còn lại không đóng hoặc đóng không đủ số tiền BHYT theo quy định của pháp luật) .

Đến đây, mọi thứ đã được sáng tỏ. Một khi đã xác định được việc tham gia bảo hiểm y tế là hợp đồng giữa hai bên thì ta phải bàn đến yếu tố tự nguyện trong hợp đồng để hợp đồng có hiệu lực. Tuy nhiên, sự tự nguyện của công dân đã bị hạn chế bởi Hiến pháp cũng như pháp luật về bảo hiểm y tế hiện hành. Đây chính là một bất cập lớn bởi vì Quyền tự do ý chí trong lựa chọn là một quyền rất cơ bản của công dân. Đối với các dịch vụ mà công dân không muốn tham gia, công dân phải có quyền từ chối chúng và bất kỳ ai cũng không được quyền ngăn cản điều đó. Và thực tế thì người dân có ủng hộ chính sách bắt buộc trong việc tham gia bảo hiểm y tế không? Theo Đại biểu đoàn TP HCM Đoàn Nguyễn Thùy Trang trích dẫn số liệu từ báo cáo giám sát của Quốc hội: “Có đến 50% đối tượng thuộc diện đóng BHYT bắt buộc cho biết sẽ không tham gia BHYT nếu để họ tự nguyện” bởi “khám, chữa bệnh BHYT thường phải xếp hàng dài dằng dặc, chờ vài tiếng mới được làm thủ tục nhưng chỉ được khám trong vòng 1 phút”. Đây là một con số đáng phải suy ngẫm khi gần như một nửa số người tham gia bảo hiểm y tế nhưng lại không hề cảm thấy thoải mái đối với việc tham gia này. Thay vì cưỡng ép, Nhà nước nên chọn giải pháp đầu tư nâng cao chất lượng y tế để thu hút sự tham gia của công dân. Một khi chất lượng dịch vụ tốt, công dân sẽ tự giác hưởng ứng tham gia bảo hiểm y tế.


Công dân sẽ tự giác hưởng ứng tham gia bảo hiểm y tế khi chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh được nâng cao


II. Bảo hiểm y tế bắt buộc - Đặt gánh nặng lên vai bác sĩ, nhiều hệ lụy xảy ra
Bảo hiểm y tế là một chính sách quan trọng để bảo đảm an sinh xã hội. Bảo hiểm y tế tạo điều kiện cho bệnh nhân được khám và điều trị dù không có đủ tiền trang trải số chi phí khám chữa bệnh thực tế cho cơ quan y tế. Khi mọi người có bảo hiểm y tế, việc chú ý đến sức khỏe của bản thân sẽ được nâng cao. Tuy nhiên, cũng chính vì lý do đó mà việc lạm dụng nhu cầu cần chăm sóc y tế cũng sẽ cao lên. Nhu cầu của người dân tăng cao nhưng số lượng nhân viên y tế, bác sĩ trong một gian ngắn không thể tăng theo nguồn cầu được. Thành thử ra, bác sĩ và nhân viên y tế phải chịu một áp lực rất lớn trong vấn đề khám chữa bệnh.
Ngoài áp lực từ phía bệnh nhân, áp lực từ phía các giám định viên bảo hiểm y tế cũng đè nặng không kém. Thông tin về việc cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa phát hiện và từ chối chi trả trên 10% hồ sơ đề nghị thanh toán của các cơ sở y tế với số tiền gần 3.000 tỉ đồng do chi sai vào đầu năm 2017 đã khiến nhiều bệnh viện và bác sĩ có chung một nỗi sợ mang tên “xuất toán” bảo hiểm y tế. Bác sĩ Nguyễn Đắc Lực, Giám đốc phòng khám Đa khoa Y Đức (Đồng Nai) mỉa mai rằng: “Các bác sĩ và nhân viên y tế thay vì phải dành thời gian đầu khám bệnh thì phải chăm chăm ghi chép làm sao cho hợp lý để không bị xuất toán. "Bác sĩ giỏi không phải là bác sĩ chữa bệnh tốt mà là không bị xuất toán", bác sĩ Lực chia sẻ thêm”. Nhiều bác sĩ đang khám chữa bệnh tại TPHCM cho biết, hiện nay họ đang mất hơn 60% thời gian cho các thủ tục, giấy tờ hành chính - một công việc đòi hỏi họ phải cẩn trọng - vì nếu viết sai hoặc chỉ định thuốc khác với thuốc chỉ định trong phác đồ điều trị thì BHYT sẽ xuất toán, bác sĩ phải đền tiền.
Để giảm tải gánh nặng, các bệnh viện và bác sĩ bắt buộc phải cân bằng lại chất lượng dịch vụ. Điều này sẽ dẫn đến hoặc là viện phí hay chi phí bảo hiểm y tế phải được tăng lên, hoặc là chất lượng khám chữa bệnh sẽ phải giảm xuống để cân bằng. Một khi chất lượng khám chữa bệnh giảm thì nó sẽ không còn là 1 tiêu chí quan trọng nữa bởi vì khi đó bác sĩ chỉ quan tâm đến việc "Trả phí dịch vụ" và "Thực hiện dịch vụ". Thực tế cho thấy rằng không hiếm các trường hợp như vậy. Báo Tuổi trẻ Online có phỏng vấn ý kiến một số bệnh nhân tại TPHCM như sau: Ông Nguyễn Văn Lâm (TP.HCM) kể lại rằng: “Người bệnh có rất nhiều điều muốn hỏi bác sĩ nhưng bác sĩ không cho nói, họ hỏi mình qua loa mấy câu hỏi “có/không” rồi kê toa thuốc, khám tích tắc như vậy không yên tâm được”; hay bà Huỳnh Hồ bày tỏ sự không hài lòng: “Tôi muốn nói với bác sĩ về cách dùng thuốc hiện tại ở nhà như uống thuốc gì, uống bao nhiêu, uống như thế nào cho bác sĩ biết để cấp thuốc đợt tiếp theo phù hợp hơn nhưng bác sĩ không cho nói. Bác sĩ hỏi thì mình mới được trả lời”. Với việc bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế nhưng không giải quyết định tình trạng chất lượng khám chữa bệnh ngày càng đi xuống, lợi ích cộng đồng sẽ bị ảnh hưởng rất lớn.
Nếu pháp luật Việt Nam không điều chỉnh kịp thời, hệ quả của việc này sẽ làm cho các nhà khoa học trong lĩnh vực y học tránh né nghiên cứu y học vì chi phí nghiên cứu rất cao nhưng nếu thành công thì thu lợi về sau không nhiều (Bởi bảo hiểm y tế đã trả gần như tất cả chi phí nên sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng bảo hiểm y tế hơn, nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm y tế tăng cao). Ngoài ra khi sử dụng thành quả y học mới nhưng nằm ngoài pháp đồ điều trị cũng mang nhiều rủi ro phải xuất toán.
Xét về khả năng nghiên cứu y học, trang SJR (Scimago Journal and Country) Ranking, trang chuyên xếp hạng khoa học các quốc gia và tạp chí khắp thế giới vào năm 2015 đã công bố rằng Việt Nam có 626 bài y khoa công bố nhưng có đến trên 90% bài công bố trong năm 2015 là hợp tác quốc tế, nghĩa là 9/10 bài khoa học được công bố có sự trợ giúp hoặc hợp tác của nước ngoài. Điểm này nguy hiểm vì trong 626 bài công bố năm 2015, chỉ có khoảng 10% (62) bài là do các trường viện y khoa tại Việt Nam tự làm ra. Với gần 50 trường Y và hàng trăm bệnh viện tại Việt Nam, con số 62 bài xuất bản quốc tế do tự lực là rất thấp. Ngay cạnh Việt Nam, Thái Lan năm 2015 đăng 3329 bài y khoa quốc tế với khoảng 50% hợp tác quốc tế, khả năng tự lực viết bài của Thái lan là 1650 bài, so với 62 của Việt Nam. Phân tích kỹ hơn, phần lớn các bài y khoa của Việt Nam đăng năm 2015 thiên về nhiễm, nội khoa, và vi sinh, không khác biệt lắm so với 10 năm trước (2005). Điều này gợi ý không có sự đầu tư vào những chuyên khoa khác hoặc hướng đi khác trong việc nghiên cứu y khoa tại Việt Nam. So sánh Thái Lan năm 2005 và năm 2015 cho thấy sự thay đổi về cả chất và lượng. Những bất cập trên nếu không giải quyết kịp thời sẽ ngăn chặn sự cải tiến liên tục và tiến bộ cũng như chất lượng chăm sóc y tế tại quốc gia này so với sự vượt trội của các quốc gia khác.


Mọi gánh nặng đặt hết lên vai bác sĩ

Tạm kết:
Nhìn chung, BHYT là một chính sách quan trọng để bảo đảm an sinh xã hội, tham gia vào chống đói nghèo do bệnh tật gây ra. BHYT cũng là một nguồn tài chính rất quan trọng dành cho chăm sóc sức khỏe nhất là khi tình hình ngân sách của Nhà nước không đủ để bao cấp hoàn toàn cho chăm sóc sức khỏe. BHYT là sự chia sẻ, cưu mang hữu hiệu nhất giữa người có điều kiện và người khó khăn. BHYT là một giải pháp ưu việt trong một hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, Nhà nước cần có những giải pháp để khắc phục các hạn chế, bất cập còn tồn tại mà tôi đã trình bày để ngày càng hoàn thiện các quy định của pháp luật và hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân, bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Cần tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính để huy động đủ kinh phí; điều chỉnh giá dịch vụ y tế hưởng bảo hiểm y tế theo hướng tính đúng, tính đủ các chi phí trực tiếp phục vụ bệnh nhân, làm cơ sở để quỹ bảo hiểm y tế thanh toán, bảo đảm quyền lợi cho người bệnh; giá dịch vụ cũng phải phù hợp với khả năng chi trả của người bệnh; đồng thời, nên chuyển cơ chế cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước cho cơ sở cung ứng dịch vụ sang người tham gia bảo hiểm y tế.
                                                                                                                   Kenji



[1] Sau đây khái niệm Công dân, người dân sẽ được hiểu là những đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế tại Điều 12, Luật bảo hiểm y tế 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014
[2] Bảo hiểm y tế: Sau đây sẽ được viết tắt là BHYT