Chào
mọi người! Trước khi đi vào bài viết, mình xin đưa ra một số thông tin nhỏ như
sau:
Đây
là một đề tài thuyết trình môn Tố tụng Dân sự trên lớp của mình. Nội dung giáo
viên yêu cầu chỉ đơn giản là "Tìm các bản án hoặc tình huống có vấn đề bất
cập, hạn chế hoặc mâu thuẫn trong cách giải thích các quy định của pháp luật
tương ứng, tóm tắt và chỉ ra những mâu thuẫn đó. Tìm hiểu kinh nghiệm quy định
pháp luật nước ngoài về vấn đề trên", Vậy nên bài viết này không phải là
bài luận. Nội dung bài viết chỉ xoay quanh việc tìm bản án, trích đoạn mâu thuẫn
trong các phán quyết của các tòa, trích đoạn bình luận của các tác giả khác, và
thứ mình thấy hay ho nhất trong bài này đó là phần cuối cùng của bài viết: cách
tính án phí dân sự của Nhật Bản trong cùng vấn đề được đề cập. Bài viết khá dài, mọi người
hãy cân nhắc trước khi đọc.
---------------------------------------------------------------------------------------------------
MÂU THUẪN TRONG CÁCH TÍNH ÁN PHÍ THUẬN TÌNH LY HÔN
Cùng
với sự ra đời của Bộ luật Tố tụng Dân sự và các văn bản pháp luật liên quan
khác mà các vấn đề bất cập tồn tại trước đó đã dần được tháo gỡ. Tuy nhiên
trong quá trình áp dụng thực tế, lại nảy sinh một số vấn đề mới. Đơn cử là vướng
mắc trong việc tính án phí trong các hoạt động tố tụng.
Trong
các vụ án dân sự, án phí chính là chế tài, là công cụ thiết yếu góp phần nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân. Ngoài ra, án phí cũng tạo ra nguồn
thu cho ngân sách nhà nước và cũng là “biện pháp kinh tế” làm giảm các tranh chấp
không đáng có xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên, do chưa có tính thống nhất áp dụng
quy định của pháp luật về án phí liên quan đến vấn đề thuận tình ly hôn nên đã
gây ra một số hệ lụy trên thực tế.
Khái
niệm về án phí được Bộ luật Tố tụng Dân sự 2014 quy định rất rõ ràng tại Điều
143 như sau:
- Tiền tạm
ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
- Án phí
bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
Sau
đây là hai bản án thể hiện rõ bất cập của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật
trong thực tiễn liên quan đến vấn đề tính án phí đối với trường hợp thuận tình
ly hôn.
A. BẢN ÁN CÓ VƯỚNG MẮC:
v
Bản án 1: Bản án 25/2017/HNGĐ-ST, V/v ly hôn giữa chị N và anh N (Ngày 16/06/2017,
TAND Huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định).
Đường
dẫn: http://banan.thuvienphapluat.vn/ban-an/ban-an-252017hngdst-ve-viec-ly-hon-giua-chi-n-va-anh-n-2138
v
Bản án 2: Bản án 12/2017/HNGĐ-ST, V/v ly hôn, nuôi con chung (Ngày 30/08/2017, TAND
Huyện Hướng Hóa, Tỉnh Quảng Trị)
Thuận tình ly hôn
B. TÓM TẮT BẢN ÁN:
1. BẢN ÁN 1:
Bản án 25/2017/HNGĐ-ST, V/v ly hôn giữa chị N và anh N (Ngày 16/06/2017,
TAND Huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định).
v
Tóm tắt bản án:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N – sinh năm 1978. Địa chỉ: tổ 6,
thôn B, thị trấn N, huyện N,tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Trần Văn N – sinh năm 1976. Địa chỉ: tổ 6,
thôn B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Nội dung vụ án:
-
Nguyên đơn là chị Phạm
Thị N trình bày:
+
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn N đã chung sống với nhau và có 02 con
trước khi kết hôn. Ngày 08/12/ 2005 anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân thị trấn N. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc do hai bên
không hợp tính cách nhau, hay cãi vã nhau, anh không quan tâm gì đến vợ con,
thậm chí khi chị đẻ con phải về nhà mẹ chị để đẻ, anh không trông nom gì đến
chị và các con. Anh chị ly thân đã hai năm nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng
không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
+ Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Trần Thị Phương A (đã tự lập), cháu
Phương U và cháu T đang ở với chị, khi ly hôn chị đề nghị được nuôi cả hai con
và yêu cầu anh N góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị theo quy định của
pháp luật.
+
Về tài sản, công nợ: chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Bị đơn là anh Trần văn N có bản tự khai ngày
11/4/2017 và tại phiên tòa trình bày thời gian kết hôn của anh chị như chị đã
trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng không chung thủy và
không tin nhau, anh chị đã ly thân từ năm 2014 đến nay. Nay chị xin ly hôn anh
nhất trí. Về con chung anh chị có 03 con chung như chị đã trình bày. Khi ly hôn
anh đề nghị được nuôi cả hai con không yêu cầu chị Phạm Thị N cấp dưỡng nuôi
con vì anh làm cơ khí thu nhập mỗi tháng khoảng 5 triệu đồng. Nếu không được
nuôi cả hai con thì anh nuôi một con nào cũng được. Về tài sản công nợ anh
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nhận
định của Tòa án:
[1]. Chị phạm Thị N và anh Trần Văn N kết hôn tự nguyện có đăng ký
tại Ủy ban nhân dân thị trấn N nên là cuộc hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung
sống không mấy hòa thuận. Anh chị đã ly thân từ năm 2014 đến nay không ai quan
tâm đến ai. Nay chị xin ly hôn, anh nhất trí. Xét cuộc hôn nhân khó tồn tại
được do mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy chấp nhận sự thuận tình ly
hôn của anh chị.
[2]. Về con chung của anh chị là cháu Trần Thị
Phương A đã tự lập, không phải nuôi dưỡng. Còn lại cháu T và cháu Phương U, cả anh
và chị đều muốn nuôi cả hai con. Tuy nhiên anh bỏ nhà đi đã 2 năm nay không
quan tâm đến con, cháu Phương U có nguyện vọng ở với mẹ, xét thấy để chị nuôi
cả hai con sẽ đảm bảo tốt hơn cho các cháu vì vậy giao cả hai con cho chị Phạm
Thị N nuôi dưỡng.
Anh Trần Văn N có
trách nhiệm góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị mỗi con là 700.000
đ/tháng kể từ tháng 6/2017 đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn N
được quyền thăm con chung không ai được cản trở.
[3].
Về tài sản, công nợ đương sự không yêu cầu, Tòa án không xem xét.
[4].
Về án phí: chị Phạm Thị N phải nộp cả 75.000 đồng án phí ly hôn. Anh Trần Văn N
phải nộp 75.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều
55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
Căn cứ Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án:
1. Xử công nhận thuận
tình ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Trần Văn N.
2. Về án phí: chị Phạm Thị N nộp 75.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền
300.000 đồng chị đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam
Trực theo biên lai thu tiền số 07211 ngày 05 tháng 4 năm 2017. Hoàn trả chị
phạm Thị N 225.000 đồng tạm ứng án phí còn thừa. Anh Trần Văn N phải nộp 75.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đ tiền
án phí cấp dưỡng nuôi con.
2. BẢN ÁN 2:
Bản án 12/2017/HNGĐ-ST, V/v ly hôn, nuôi con chung (Ngày 30/08/2017, TAND
Huyện Hướng Hóa, Tỉnh Quảng Trị)
v
Tóm tắt bản án:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích Th, sinh năm 1986; địa chỉ:
Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị;
Bị đơn: Anh Ngô Phan T, sinh năm 1974; nơi đăng ký hộ khẩu
thường trú: Thôn 4, xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký tạm trú: Thôn C,
xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; chỗ ở hiện nay: 1/12 đường P, khối A, thị trấn
K, huyện H, tỉnh Quảng Trị;
Nội dung vụ án:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích Th trình bày:
+ Chị Th và anh T kết
hôn với nhau tự nguyện năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng
Trị. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn
đến thường xuyên cãi nhau, anh T uống bia, rượu về gây gổ vợ con, hiện vợ chồng
đã sống ly thân với nhau khoảng bảy tháng nay. Tình cảm vợ chồng đã mâu thuẩn
trầm trọng nên chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
+ Về con chung: Vợ
chồng có hai con chung là cháu Ngô Phan Nguyễn V, sinh ngày 12/11/2009 và cháu
Ngô Phan Bảo A, sinh ngày 24/6/2011. Nếu ly hôn chị Th có nguyện vọng xin được
trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng
là 2.000.000 đồng.
+ Về tài sản chung:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Ngô Phan T trình bày:
+ Anh T và chị Th kết
hôn với nhau là tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã T,
huyện H, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, vợ
chồng đã sống ly thân khoảng bảy tháng nay và đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị
Th. Tại phiên tòa, nếu chị Th kiên quyết ly hôn thì anh T cũng đồng ý ly hôn.
+ Về con chung: Cả
hai vợ chồng có hai con chung là cháu Ngô Phan Nguyễn V, sinh ngày 12/11/2009
và cháu Ngô Phan Bảo A, sinh ngày 24/6/2011. Nếu ly hôn, anh T có nguyện vọng
xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi
con.
+ Về tài sản chung:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nhận
định của Tòa án:
[1]. Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử
thấy:
[…] Trong
quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng đã mâu thuẩn và đã sống ly thân nhau đến
nay khoảng bảy tháng. Tại phiên tòa chị Th vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải
quyết cho chị được ly hôn anh T, anh T cũng đồng ý ly hôn nên cần áp dụng Điều
55 Luật hôn nhân và gia đình để công nhận
sự thuận tình ly hôn giữa chị Th
và anh T.
[2]. Về con chung: Vợ chồng chị Th, anh T có hai
con chung là: Ngô Phan Nguyễn V, sinh ngày 12/11/2009 và cháu Ngô Phan Bảo A,
sinh ngày 24/6/2011. […]
Xét về
điều kiện, khả năng nuôi con của chị Th và anh T sau khi ly hôn để đảm bảo cho
các cháu được phát triển trong điều kiện tốt, cần giao cháu Ngô Phan Bảo A cho
chị Th còn giao cháu Ngô Phan Nguyễn V cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
[3]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Th và anh
T không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về tài sản chung: Chị Th và anh T đều không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 3 Điều
147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Th
và anh T mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Th đã nộp
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm, chị Th được trả lại 150.000 đồng
tiền tạm ứng án phí.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 147, Điều 235, 266, 273 của Bộ luật
tố tụng dân sự; Điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản
5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án:
1. Xử công
nhận sự thuận tình ly hôn giữa
chị Nguyễn Thị Bích Th và anh Ngô Phan T.
2. Về con chung: Giao cháu Ngô Phan Bảo A, sinh
ngày 24/6/2011 cho chị Nguyễn Thị Bích Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục. Giao cháu Ngô Phan Nguyễn V, sinh ngày 12/11/2009 cho anh Ngô Phan T trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Th và anh T không phải cấp dưỡng nuôi
con.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bích Th và anh
Ngô Phan T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị
Nguyễn Thị Bích Th phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được
trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2014/0006908 ngày 12/6/2017 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Hướng Hoá, Quảng Trị. Chị Th được hoàn trả số tiền chênh lệch
còn lại là 150.000 đồng; Anh Ngô Phan T
phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
C. XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ:
Trong bản án số 1, dù không trực tiếp đề cập
nhưng Tòa án đã áp dụng Công văn số
72/TANDTC-PC để tính án phí. Khi đó, án phí sẽ được tính như sau:
“Đối với vụ án ly hôn
mà các bên đương sự thuận tình ly hôn thì áp dụng tương tự hướng dẫn tại khoản
2 Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí,
lệ phí Tòa án, cụ thể trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn
theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì được xem là các bên
đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa
án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa và các bên đương sự phải chịu 50%
mức án phí quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định).”
Như vậy, án phí đối thuận tình ly hôn sẽ được tính bằng:
300.000*25% = 75.000 (đồng) đối với mỗi bên.
Tuy nhiên, trên đây chỉ là một quan điểm áp dụng đối với việc
tính án phí thuận tình ly hôn. Hiện nay, vẫn còn tồn tại một quan điểm khác đối
với việc tính án phí thuận tình ly hôn ta sẽ xét sau đây.
Như ta đã thấy, khác với cách tính
án phí như Tòa án ở bản án 1, trong bản án số 2 Tòa án đã tính án phí dựa theo
quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14: “5. Đối với vụ án hôn nhân và gia đình thì
nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau: a) Nguyên đơn phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án
chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly
hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu
50% mức án phí”.
Như vậy, án phí đối thuận tình ly hôn sẽ được
tính bằng: 300.000*50% = 150.000 (đồng) đối với mỗi bên.
Từ hai bản án trên, có
thể nhận thấy trong thực tiễn xét xử đang tồn tại hai quan điểm về tính án phí
trong trường hợp thuận tình ly hôn mặc dù cả bản án 1 và bản án 2 đều có nội dung
gần như tương tự nhau. Vậy tại sao lại có tình trạng mâu thuẫn trong thực tiễn
này? Đây cũng chính là vấn đề bất cập trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án
với những nguyên nhân mình muốn đề cập đến sau đây.
Điều 150 Bộ luật Tố
tụng Dân sự 2014 không quy định về mức án phí cụ thể mà dẫn chiếu đến các văn
bản hướng dẫn khác do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành.
Việc thi hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2017 (Nghị quyết số 326), các Tòa án địa phương áp dụng pháp luật về
án phí trong trường hợp thuận tình ly hôn chưa thống nhất, còn nhiều quan điểm
khác nhau.
Vì vậy,
Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn số
72/TANDTC-PC ngày 11/4/2017 về việc thống nhất áp dụng quy định về án phí
trong vụ án hôn nhân (Công văn số 72).
Theo đó, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao,
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các đơn vị
Tòa án nhân dân tối cao tổ chức quán triệt tới các thẩm phán, thẩm tra viên,
thư ký trong cơ quan, đơn vị mình và Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc
phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ để áp dụng thống nhất theo đúng hướng dẫn tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết số
01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án (Nghị quyết số 01).
Cụ thể,
trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn theo quy định của pháp
luật về hôn nhân gia đình thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước
khi mở phiên tòa và các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên
phải chịu 25% mức án phí quy định).
Căn cứ
vào nội dung hướng dẫn như trên của Tòa án nhân dân tối cao thì khi nộp đơn khởi
kiện trong một vụ án xin ly hôn, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí bằng
với mức án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng. Nếu trong vụ án này, các
đương sự thỏa thuận thuận tình ly hôn và các vấn đề khác trong vụ án trước khi
mở phiên tòa (tức là hòa giải thành) thì mỗi bên (bên nguyên đơn và bên bị đơn)
phải chịu 25% mức án phí quy định. Tổng mức án phí hai bên phải chịu là 50% mức
án phí không giá ngạch.
Như vậy,
trong trường hợp này, nếu tính theo mức án phí của Nghị quyết số 326, bên
nguyên đơn (bên người nộp đơn khởi kiện) phải chịu 75.000 đồng án phí, bên bị
đơn phải chịu 75.000 đồng án phí.
Tuy nhiên
sau đó, hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về án phí thuận tình ly hôn đã vấp
phải những quan điểm trái chiều, một trong những quan điểm đó là cho rằng ban
hành Công văn 72/TANDTC-PC là trái luật.
Quan điểm
này là của tác giả Huỳnh Minh Khánh (TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang), được
đăng trên Tạp chí Dân chủ & Pháp luật - Cơ quan ngôn luận của Bộ Tư Pháp. Theo
đó, tác giả cho rằng vì Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2014 có giá trị pháp lý cao
nhất trong các văn bản liên quan vì thế các công văn, pháp lệnh hay hướng dẫn đều
phải phù hợp và không được trái với quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự như
trong thực tế đang tồn tại.
“Việc hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao
như Công văn số 72 là chưa đúng với tinh thần của Nghị quyết số 326 và chưa phù
hợp với các quy định pháp luật vì Nghị quyết số 01 là văn bản hướng dẫn Pháp lệnh
số 10, trong khi đó, giữa Pháp lệnh số 10 và Nghị quyết số 326 có quy định khác
nhau nên không thể lấy Nghị quyết số 01 để hướng dẫn Nghị quyết số 326 được. Từ
những bất cập, vướng mắc như đã nêu trên, thiết nghĩ Tòa án nhân dân tôi cao cần
thu hồi Công văn số 72.”
Thành ra đến tận bây giờ, nhiều Tòa án vẫn chưa thể thống nhất
được việc tính án phí dân sự trong trường hợp thuận tình ly hôn là phải áp dụng
điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 hay
phải áp dụng theo Công văn số 72. Qua
2 bản án trên thì ta đã thấy rõ điều này.
D. TÀI LIỆU SƯU TẦM LIÊN QUAN:
1. Các quy định trong pháp luật Việt Nam
v Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017:
“Điều 27. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong một số loại
việc cụ thể
5. Đối với vụ án hôn
nhân và gia đình thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau:
a) Nguyên đơn phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp
nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn
thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí;”
v Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015:
“Điều 147. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm
4. Trong vụ án ly hôn
thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp
nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình
ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm.”
v Công văn số 72/TANDTC-PC
ngày 11/4/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc thống nhất áp dụng quy định
về án phí trong vụ án ly hôn:
“Ngày 30-12-2016, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã
ban hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trong quá trình triển khai thực hiện,
Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh vướng mắc về việc xác định án phí
trong trường hợp các đương sự thuận tình ly hôn khi giải quyết vụ án ly hôn
theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Để bảo đảm áp dụng thống nhất, Tòa án
nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015 thì “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ
thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu
một nửa án phí sơ thẩm”.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong
vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu
50% mức án phí”.
Quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 là kế
thừa, giữ nguyên quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
Do không có sự thay đổi về nội dung của luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao chưa có hướng dẫn khác nên đối với vụ án ly hôn mà các bên đương sự
thuận tình ly hôn thì áp dụng tương tự hướng dẫn tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết
số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án,
cụ thể trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn theo quy định
của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì được xem là các bên đương sự thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành
hòa giải trước khi mở phiên tòa và các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí
quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định).
Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Chánh án
Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,
thủ trưởng các đơn vị Tòa án nhân dân tối cao sau khi nhận được Công văn này
cần tổ chức quán triệt tới các Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trong cơ
quan, đơn vị mình và Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc phạm vi thẩm
quyền theo lãnh thổ để áp dụng thống nhất. Trong quá trình thực hiện nếu có
vướng mắc hoặc có đề xuất, kiến nghị thì phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao
(thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao có hướng dẫn kịp thời.”
v
Khoản 11 Điều 27 Pháp
lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án:
“Điều 27. Nghĩa vụ chịu
án phí dân sự sơ thẩm
11. Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì
phải chịu 50% mức án phí quy định.”
v
Khoản 2 Điều 16 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP
ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án:
“Điều 16. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm
quy định tại khoản 11 Điều 27 của Pháp lệnh
2. Trong vụ án ly hôn mà các bên đương sự thuận tình ly hôn theo
quy định tại Điều 90 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì được xem là các
bên đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp
Tòa án tiến hành hoà giải trước khi mở phiên tòa theo quy định tại khoản 11
Điều 27 của Pháp lệnh và các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định
(mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định).”
2. Bài viết liên quan:
v Bài viết: Hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về án phí thuận tình ly hôn có
trái luật? của tác giả Huỳnh Minh Khánh (Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh
Tiền Giang).
“Pháp lệnh số 10 ban hành là văn bản có giá trị pháp lý thấp
hơn Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, những quy định về án phí thuận tình ly hôn
tại Pháp lệnh số 10 phải đảm bảo đầy đủ, đúng với đạo luật gốc (Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2004) nhưng Pháp lệnh số 10 lại bỏ sót quy định “trong trường hợp cả
hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm” do
đạo luật gốc quy định. Vậy việc bỏ sót này là một sai sót lớn, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến việc áp dụng án phí thuận tình ly hôn trong thời gian dài, nó dẫn đến
việc công tác thi hành án dân sự vốn đã quá tải, càng trở nên quá tải hơn, mặt
khác, với quy định này đã làm tốn kém chi phí thi hành án, tốn kém chi phí hoàn
tiền tạm ứng cho đương sự, làm thất thoát khoản thu vào ngân sách nhà nước. Nghị
quyết số 326 được ban hành đã bảo đảm được sự phù hợp, tuy nhiên, do một số người
thực thi pháp luật chưa nắm vững pháp luật nên còn lúng túng, chưa thống nhất
quy định này, nên Tòa án nhân dân tối cao đã vội vàng ban hành Công văn số 72 để
hướng dẫn.
Việc hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao như
Công văn số 72 là chưa đúng với tinh thần của Nghị quyết số 326 và chưa phù hợp
với các quy định pháp luật vì Nghị quyết số 01 là văn bản hướng dẫn Pháp lệnh số
10, trong khi đó, giữa Pháp lệnh số 10 và Nghị quyết số 326 có quy định khác
nhau nên không thể lấy Nghị quyết số 01 để hướng dẫn Nghị quyết số 326 được. Từ những bất cập, vướng mắc như đã nêu trên, thiết nghĩ Tòa án nhân dân
tôi cao cần thu hồi Công văn số 72; đồng thời khẩn trương nghiên cứu văn bản
hướng dẫn về trường hợp này theo hướng “trong trường hợp thuận tình ly hôn thì
mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí” phù với quy định tại khoản 4 Điều
147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326” (Hết trích).
3. Các quy định trong pháp luật nước ngoài:
Quy định pháp luật Nhật Bản về vấn đề
thuận tình ly hôn:
Thủ tục ly hôn tại Nhật Bản
tồn có bốn bước như sau:
1. Thuận tình ly hôn (協議離婚)
Ở Nhật hiện nay, đến 90%
các vụ ly hôn được tiến hành thông qua những cuộc nói chuyện giữa người chồng
và người vợ (thuận tình ly hôn). Cả vợ, chồng đồng
ý kí vào tờ đơn ly hôn và nộp cho văn phòng quận (市役所 区役所) hoặc văn phòng thành
phố (市役所) nơi hai bên đã thỏa
thuận. Thủ tục để tiến hành thuận
tình ly hôn tại Nhật Bản hiện nay hết sức đơn giản. Thời gian xử lý hồ sơ hết sức
nhanh chóng. Đối với một yêu cầu thuận tình ly hôn có thể chỉ tốn vài phút để
tiến hành công nhận.
Nếu có một
bên vợ hoặc chồng không đồng ý thì dù với bất cứ lý do nào kể cả ngoại tình, bạo
lực… cũng không thể ly hôn.
Chi phí: Về cơ bản thuận tình
ly hôn không tốn bất kỳ khoản phí nào.
(Trích: “協議離婚は夫婦間での話し合いで離婚を決めますので、基本的に費用はかかりません” - Theo bài viết của Luật sư Koji Umezawa thuộc Công ty Luật
Mai Sogo)
2. Hoà
giải ly hôn (調停離婚)
Khi 2 vợ chồng không tìm được sự nhất trí về việc ly hôn thì sẽ hội ý tại nơi hoà giải của toà án gia đình. Phải thông qua bộ phận hoà giải này thì mới kiện lên toà án được.
Khi 2 vợ chồng không tìm được sự nhất trí về việc ly hôn thì sẽ hội ý tại nơi hoà giải của toà án gia đình. Phải thông qua bộ phận hoà giải này thì mới kiện lên toà án được.
Chí phí: 1200 yên + chi phí
tem thư
Cơ sở pháp lý: Hàng (15)-2, Bảng 1,
Đạo Luật về chi phí Tố tụng dân sự (Đạo
luật 40 năm 1971) (家事事件手続法 法令番号:平成二十三年法律第五十二号)
Row
|
Left column
|
Right column
|
(15)-2
|
The filing of adjudication of any of the matters listed in
appended table 2 of the Domestic
Relations Case Procedure Act, conciliation of a case prescribed
in Article 244 of said Act or a petition for the case seeking the return of
child prescribed in Article32, paragraph(1) of the Act
for Implementation of the Convention on the Civil Aspects of International
Child Abduction, or an application for intervention under the provisions of
these Acts (limited to the cases of intervention as the petitioner)
|
1,200 yen
|
Dịch sơ lược: (15)-2: Nếu đơn khởi kiện yêu cầu xét xử bất kỳ vấn đề nào được liệt kê trong bảng 2 của Đạo luật về Tố tụng đối với các trường hợp liên quan đến quan hệ gia đình (Đạo luật 52, năm 2011), hòa giải một vụ kiện thuộc Điều 244 của Đạo luật trên… thì phải trả 1200 yên.
3. Trọng
tài ly hôn (審判離婚)
Khi không hoà giải được tại nơi hoà giải của toà án gia đình nữa thì chủ toạ sẽ làm trọng tài và quyết định cho ly hôn.
Khi không hoà giải được tại nơi hoà giải của toà án gia đình nữa thì chủ toạ sẽ làm trọng tài và quyết định cho ly hôn.
Chi phí:
Khoảng 2000 yên
4. Phán
quyết ly hôn (判決離婚)
Khi hoà giải kết thúc mà không có kết quả, việc ly hôn sẽ được giải quyết thông qua quyết định của toà án.
Khi hoà giải kết thúc mà không có kết quả, việc ly hôn sẽ được giải quyết thông qua quyết định của toà án.
Chi phí: Chi phí sẽ tăng theo
số yêu cầu giải quyết của đương sư. Thông thường giao động khoản 13.000 yên
(chưa tính tem thư và các khoản chi phí khác)
Vậy là, pháp luật Nhật Bản và Việt Nam xét cả về chi phí
lẫn thủ tục giải quyết thuận tình ly hôn đều khác nhau. Nhưng ta có thể thấy được
rằng, pháp luật Nhật Bản tạo nhiều thuận lợi trong quá trình giải quyết thuận
tình ly hôn hơn so với pháp luật Việt Nam.
Nhìn nhận
lại vấn đề dưới gốc độ pháp luật Việt Nam, việc tính mức tạm ứng án phí, án phí
là công việc thường xuyên của Tòa án. Tuy nhiên vì các quy định còn chồng chéo
và chưa rõ ràng mà cho đến nay các quan điểm vẫn chưa thống nhất với nhau. Việc
này dẫn đến hậu quả mỗi Tòa án quyết định mức án phí khác nhau, gây thất thoát
cho khoản thu vào của nhà nước cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của
đương sự. Thiết nghĩ những vướng mắc này cần được chú ý và tháo gỡ sớm bằng việc
đưa ra một văn bản thống nhất nhằm nhanh chóng khắc phục và chấm dứt tình trạng
giải quyết theo quan điểm hiện nay của các Tòa án địa phương.
Kenji
Kenji


0 nhận xét:
Đăng nhận xét