Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự (bắt đầu từ thời điểm thụ lý vụ án), nếu thấy có cơ sở cho rằng đương sự sẽ có hành vi tẩu tán tài sản thì ta có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại BLTTDS 2015. Để hiểu rõ hơn, xin mời quý bạn đọc tìm hiểu bài viết dưới đây.

Đương sự tẩu tán tài sản sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án về sau
Quyền
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Hành vi tẩu tán tài sản
chính là việc xác lập các giao dịch các giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với
người thứ ba.
Khi Tòa án tiến hành thủ
tục tố tụng, pháp luật về tố tụng dân sự đã có quy định về việc ra quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể:
Theo quy định tại khoản
10 Điều 70 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự có quyền đề nghị Tòa án
quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo quy định
tại khoản 1, khoản 2 Điều 111 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 thì trong quá
trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ
quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có
quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp
khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết
yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng
cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể
khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
Trong trường hợp do
tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng
có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền
ra quyết định áp dụng BPKCTT quy định tại Điều 114 BLTTDS 2015 đồng thời với việc
nộp đơn khởi kiện cho Tòa án.
Để
tránh trường hợp đương sự có thể tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án dân sự, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án,
thì pháp luật đã quy định quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 ngay trong giai đoạn nộp đơn, Tòa án mới thụ lý đơn khởi kiện hoặc
trong giai đoạn xét xử. Quy định này nhằm hạn chế việc đương sự tẩu tán tài sản,
trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự và đảm bảo công tác thi hành án được hiệu
quả.
Theo
quy định tại Điều 135 BLTTDS 2015 thì trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3 ,4 và 5 Điều 114 bộ luật này.
Còn lại, Tòa án chỉ được áp dụng các BPKCTT này khi có đương
sự có đơn yêu cầu;
Đối với trường hợp phải
thực hiện biện pháp bảo đảm thì chỉ khi đương sự đã thực hiện biện pháp bảo đảm
Tòa án mới ra quyết định áp dụng BPKCTT khi thấy cần thiết và có căn cứ;
Trường hợp áp dụng
BPKCTT quy định tại khoản 10 và khoản 11 Điều 114 BLTTDS 2015 thì chỉ được
phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người
bị áp dụng BPKCTT có nghĩa vụ phải thực hiện.
Người yêu cầu Toà án áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu
của mình. Căn cứ Điều 113 BLTTDS 2015 thì trong trường hợp yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.
Đồng thời người yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên sẽ phải gửi một khoản tiền, kim khí
quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Toà án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa
vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của người bị
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu.
Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
![]() |
| Đương sự có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản |
Theo quy định tại điều
187 BLTTDS 2015 thì đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân kiến
nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn, văn bản gửi đến
Tòa án. Đồng thời người yêu cầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân kiến nghị áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời phải đưa ra chứng cứ chứng minh cho việc yêu cầu, kiến
nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cần thiết và hợp pháp.
Trường hợp Tòa án nhận
đơn yêu cầu trước khi mở phiên tòa thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án phải xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
đơn, nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi
người đó thực hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 của Bộ luật này
thì Thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu
không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý
do cho người yêu cầu…”
Tại
phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng
xét xử xem xét, thảo luận, giải quyết tại phòng xử án. Nếu chấp nhận thì HĐXX
ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay hoặc sau khi người yêu cầu
đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 BLTTDS 2015. Việc thực
hiện biện pháp bảo đảm được bắt đầu từ thời điểm Hội đồng xét xử ra quyết định
buộc thực hiện biện pháp bảo đảm nhưng người yêu cầu phải xuất trình chứng cứ về
việc đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm trước khi Hội đồng xét xử vào phòng
nghị án; nếu không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội
đồng xét xử phải thông báo ngay tại phòng xử án nêu rõ lý do và ghi vào biên bản
phiên tòa.
Thay đổi, áp dụng bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
![]() |
| Đương sự có quyền hủy bỏ những biện pháp ngăn chặn đã yêu cầu trước đây |
Theo quy định tại Điều
137 BLTTDS 2015, khi xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng
không còn phù hợp mà cần thiết phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện pháp khẩn
cấp tạm thời khác thì thủ tục thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm
thời khác được thực hiện theo quy định tại Điều 133 BLTTDS 2015.
Khi thuộc một trong các
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 138 BLTTDS 2015 Tòa án ra ngay quyết định
hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được
áp dụng. Cụ thể các trường hợp đó là:
· Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời đề nghị hủy bỏ;
· Người phải thi hành quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp
bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu
· Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm dứt
theo quy định của BLDS
· Việc giải quyết vụ án được đình chỉ theo
quy định của Bộ luật này;
· Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời không đúng theo quy định của Bộ luật này;
· Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời không còn;
· Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Thủ tục ra quyết định hủy
bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều
133 BLTTDS 2015. Trường hợp đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật thì việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời do một Thẩm phán được Chánh án của Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời phân công giải quyết.
Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay. Tòa án phải cấp hoặc gửi quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi ra quyết định
cho người có yêu cầu, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và Viện kiểm
sát cùng cấp.
Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền
kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn khiếu nại, kiến
nghị là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết
định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trên đây là bài viết về chủ đề “Muốn ngăn chặn tẩu
tán nhà đất thì phải làm như thế nào?". Nếu có bất kỳ thắc mắc gì cần được giải
đáp xin vui lòng liên hệ qua số điện thoại
0974.355.638 để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.



0 nhận xét:
Đăng nhận xét