Mặc dù quy định về bảo hiểm y tế bắt buộc
đã có hiệu lực từ lâu (Luật bảo hiểm y tế
2008, sửa đổi bổ sung năm 2014) nhưng đến nay, sau khi nhìn nhận lại, tôi
nhận thấy được một số bất cập khi bắt buộc trong việc tham gia Bảo hiểm y tế
như sau:
I. Bảo hiểm y tế bắt buộc - Hợp hiến, hợp pháp nhưng không hợp lý
Về quy định bắt buộc tham gia bảo hiểm y
tế, các văn bản pháp luật hiện hành của nước ta có quy định như sau:
Luật Bảo hiểm y tế năm 2008
(sửa đổi bổ sung năm 2014):
“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng
áp dụng
1. Bảo hiểm y tế là
hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo
quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà
nước tổ chức thực hiện.”
- Việc bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế còn được nêu rõ trong Hiến pháp 2013:
"Điều 38
1. Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm
sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa
vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh."
- Và để củng cố hai quy định trên, Hiến pháp 2013 cũng quy định rõ rằng:
“Điều 14
2. Quyền con người, quyền
công dân chỉ có thể bị hạn chế theo
quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng
đồng.”
Qua ba quy định trên, ta có thể hiểu rằng
công dân[1] (Thuộc Điều 12. Đối tượng
tham gia bảo hiểm y tế 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014) bắt buộc phải tham
gia bảo hiểm y tế dù cho ý chí của họ không hề mong muốn. Và nếu không tham
gia, công dân đó sẽ bị xem là đã vi phạm pháp luật.
Bây giờ, ta phải thừa nhận một điều rằng
dù là ép buộc nhưng việc bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế này là hợp hiến và hợp
pháp. Tuy nhiên, hãy để những quy định bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế nói trên
qua một bên, ta sẽ khai thác một khía cạnh khác của vấn đề: Công dân mất gì khi
bị bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế[2]? – Công dân đã mất đi
Quyền tự do ý chí.
Để hiểu rõ về vấn đề này, ta hãy liên
tưởng đến những hoạt động đơn giản nhất. Hằng ngày, mọi người đều có quyền tự
do ý chí quyết định trong các hoạt động như mua sắm, đầu tư, tiết kiệm cho
tương lai,… Quyền tự do ý chí này chính là Quyền con người (Human Rights) – một
thuật ngữ được sử dụng trong Công pháp quốc tế. Việt Nam hiện nay đã tham gia
ký kết hai công ước quốc tế liên quan đến Quyền con người gồm: Công ước quốc tế về
các quyền dân sự và chính trị (1966, có hiệu lực ngày 23/3/1976) và Công ước quốc
tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966, có hiệu lực từ ngày
3/01/1976) và tại các diễn đàn đối thoại về Quyền con người thì Việt
Nam luôn luôn lên tiếng về việc tôn trọng cũng như đảm bảo thực thi nghiêm túc
những quyền này. Cho nên ta có thể khẳng định rằng Quyền tự do ý chí trong lựa
chọn là một quyền bất khả xâm phạm đối với mọi công dân Việt Nam.
Trong pháp luật Dân sự, tự do ý
chí cũng chính là nguyên tắc cốt lõi của hợp đồng. Vì sao tôi lại dẫn chiếu từ Công
pháp quốc tế sang đến tận Bộ luật Dân sự Việt Nam? Bởi vì quyền tự do dân sự chính là quyền con người. Thế nên tất cả những chủ thể khác phải tôn trọng quyền tự do này của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, có một vấn đề được đặt ra sau đó: Liệu Bảo hiểm y tế có chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự? Xin thưa rằng: Có chịu sự điều chỉnh bởi vì bảo hiểm y tế chính là hợp đồng dân sự. Để chứng minh điều này, ta cùng đi vào phân tích:
+ Bàn rõ về Bảo hiểm y tế bắt buộc, quy
trình để được sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bằng Thẻ bảo hiểm y tế được tóm
tắt như sau: Tổ chức Bảo hiểm xã hội ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh BHYT với
cơ sở y tế (Điều
7, Thông tư số 41/2014/TTLT-BYT-BTC); sau đó công dân tiến hành đóng
tiền tại tổ chức bảo hiểm y tế để được cấp thẻ bảo hiểm y tế để làm căn cứ
hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế (Luật bảo hiểm y tế
2008, sửa đổi bổ sung năm 2014); cuối cùng khi có nhu cầu khám chữa
bệnh, công dân chỉ cần đến cơ sở khám chữa bệnh để được hưởng dịch vụ khám chữa
bệnh theo quy định của pháp luật.
+ Và việc đăng ký Thẻ bảo hiểm y tế giữa
công dân và Tổ chức Bảo hiểm chính là một hợp đồng dân sự bởi đây là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập nghĩa vụ dân sự (VD: Nghĩa vụ bên Tổ chức
Bảo hiểm là phải chi trả số tiền khám chữa bệnh cho công dân theo đúng quy định
của pháp luật), thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Tổ chức Bảo hiểm
có quyền đình chỉ thẻ BHYT trong trường hợp bên còn lại không đóng hoặc đóng
không đủ số tiền BHYT theo quy định của pháp luật) .
Đến đây, mọi thứ đã được sáng tỏ. Một khi
đã xác định được việc tham gia bảo hiểm y tế là hợp đồng giữa hai bên thì ta
phải bàn đến yếu tố tự nguyện trong hợp đồng để hợp đồng có hiệu lực. Tuy nhiên,
sự tự nguyện của công dân đã bị hạn chế bởi Hiến pháp cũng như pháp luật về bảo
hiểm y tế hiện hành. Đây chính là một bất cập lớn bởi vì Quyền tự do ý chí
trong lựa chọn là một quyền rất cơ bản của công dân. Đối với các dịch vụ mà
công dân không muốn tham gia, công dân phải có quyền từ chối chúng và bất kỳ ai
cũng không được quyền ngăn cản điều đó. Và thực tế thì người dân có ủng hộ
chính sách bắt buộc trong việc tham gia bảo hiểm y tế không? Theo Đại biểu đoàn
TP HCM Đoàn Nguyễn Thùy Trang trích dẫn số liệu từ báo cáo giám sát của Quốc
hội: “Có đến
50% đối tượng thuộc diện đóng BHYT bắt buộc cho biết sẽ không tham gia BHYT nếu
để họ tự nguyện” bởi “khám, chữa bệnh BHYT thường phải xếp hàng dài dằng dặc,
chờ vài tiếng mới được làm thủ tục nhưng chỉ được khám trong vòng 1 phút”. Đây
là một con số đáng phải suy ngẫm khi gần như một nửa số người tham gia bảo hiểm
y tế nhưng lại không hề cảm thấy thoải mái đối với việc tham gia này. Thay vì
cưỡng ép, Nhà nước nên chọn giải pháp đầu tư nâng cao chất lượng y tế để thu
hút sự tham gia của công dân. Một khi chất lượng dịch vụ tốt, công dân sẽ tự
giác hưởng ứng tham gia bảo hiểm y tế.
Công dân sẽ tự giác hưởng ứng tham gia bảo hiểm y tế khi chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh được nâng cao
Bảo
hiểm y tế là một chính sách quan trọng để bảo đảm an sinh xã hội. Bảo hiểm y tế
tạo điều kiện cho bệnh nhân được khám và điều trị dù không có đủ tiền trang trải
số chi phí khám chữa bệnh thực tế cho cơ quan y tế. Khi mọi người có bảo hiểm y
tế, việc chú ý đến sức khỏe của bản thân sẽ được nâng cao. Tuy nhiên, cũng
chính vì lý do đó mà việc lạm dụng nhu cầu cần chăm sóc y tế cũng sẽ cao lên.
Nhu cầu của người dân tăng cao nhưng số lượng nhân viên y tế, bác sĩ trong một
gian ngắn không thể tăng theo nguồn cầu được. Thành thử ra, bác sĩ và nhân viên
y tế phải chịu một áp lực rất lớn trong vấn đề khám chữa bệnh.
Ngoài
áp lực từ phía bệnh nhân, áp lực từ phía các giám định viên bảo hiểm y tế cũng
đè nặng không kém. Thông tin về việc cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa phát
hiện và từ chối chi trả trên 10% hồ sơ đề nghị thanh toán của các cơ sở y tế với
số tiền gần 3.000 tỉ đồng do chi sai vào đầu năm 2017 đã khiến nhiều bệnh viện
và bác sĩ có chung một nỗi sợ mang tên “xuất toán” bảo hiểm y tế. Bác sĩ Nguyễn
Đắc Lực, Giám đốc phòng khám Đa khoa Y Đức (Đồng Nai) mỉa mai rằng: “Các bác sĩ và nhân viên y tế thay vì phải
dành thời gian đầu khám bệnh thì phải chăm chăm ghi chép làm sao cho hợp lý để
không bị xuất toán. "Bác sĩ giỏi không phải là bác sĩ chữa bệnh tốt mà là
không bị xuất toán", bác sĩ Lực chia sẻ thêm”. Nhiều bác sĩ đang khám
chữa bệnh tại TPHCM cho biết, hiện nay họ đang mất hơn 60% thời gian cho các thủ
tục, giấy tờ hành chính - một công việc đòi hỏi họ phải cẩn trọng - vì nếu viết
sai hoặc chỉ định thuốc khác với thuốc chỉ định trong phác đồ điều trị thì BHYT
sẽ xuất toán, bác sĩ phải đền tiền.
Để
giảm tải gánh nặng, các bệnh viện và bác sĩ bắt buộc phải cân bằng lại chất lượng
dịch vụ. Điều này sẽ dẫn đến hoặc là viện phí hay chi phí bảo hiểm y tế phải được
tăng lên, hoặc là chất lượng khám chữa bệnh sẽ phải giảm xuống để cân bằng. Một
khi chất lượng khám chữa bệnh giảm thì nó sẽ không còn là 1 tiêu chí quan trọng
nữa bởi vì khi đó bác sĩ chỉ quan tâm đến việc "Trả phí dịch vụ" và
"Thực hiện dịch vụ". Thực tế cho thấy rằng không hiếm các trường hợp
như vậy. Báo Tuổi trẻ Online có phỏng vấn ý kiến một số bệnh nhân tại TPHCM như
sau: Ông Nguyễn Văn Lâm (TP.HCM) kể lại rằng: “Người bệnh có rất nhiều điều muốn hỏi bác sĩ nhưng bác sĩ không
cho nói, họ hỏi mình qua loa mấy câu hỏi “có/không” rồi kê toa thuốc, khám
tích tắc như vậy không yên tâm được”; hay bà Huỳnh Hồ bày tỏ sự không hài
lòng: “Tôi muốn nói với bác sĩ về cách
dùng thuốc hiện tại ở nhà như uống thuốc gì, uống bao nhiêu, uống như
thế nào cho bác sĩ biết để cấp thuốc đợt tiếp theo phù hợp hơn nhưng bác
sĩ không cho nói. Bác sĩ hỏi thì mình mới được trả lời”. Với việc bắt buộc
tham gia bảo hiểm y tế nhưng không giải quyết định tình trạng chất lượng khám
chữa bệnh ngày càng đi xuống, lợi ích cộng đồng sẽ bị ảnh hưởng rất lớn.
Nếu
pháp luật Việt Nam không điều chỉnh kịp thời, hệ quả của việc này sẽ làm cho
các nhà khoa học trong lĩnh vực y học tránh né nghiên cứu y học vì chi phí nghiên
cứu rất cao nhưng nếu thành công thì thu lợi về sau không nhiều (Bởi bảo hiểm y
tế đã trả gần như tất cả chi phí nên sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng bảo hiểm y
tế hơn, nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm y tế tăng cao). Ngoài ra khi sử dụng thành quả
y học mới nhưng nằm ngoài pháp đồ điều trị cũng mang nhiều rủi ro phải xuất
toán.
Xét
về khả năng nghiên cứu y học, trang SJR (Scimago Journal and Country) Ranking,
trang chuyên xếp hạng khoa học các quốc gia và tạp chí khắp thế giới vào năm
2015 đã công bố rằng Việt Nam có 626 bài y khoa công bố nhưng có đến trên 90%
bài công bố trong năm 2015 là hợp tác quốc tế, nghĩa là 9/10 bài khoa học được
công bố có sự trợ giúp hoặc hợp tác của nước ngoài. Điểm này nguy hiểm vì trong
626 bài công bố năm 2015, chỉ có khoảng 10% (62) bài là do các trường viện y
khoa tại Việt Nam tự làm ra. Với gần 50 trường Y và hàng trăm bệnh viện tại Việt
Nam, con số 62 bài xuất bản quốc tế do tự lực là rất thấp. Ngay cạnh Việt Nam,
Thái Lan năm 2015 đăng 3329 bài y khoa quốc tế với khoảng 50% hợp tác quốc tế,
khả năng tự lực viết bài của Thái lan là 1650 bài, so với 62 của Việt Nam. Phân
tích kỹ hơn, phần lớn các bài y khoa của Việt Nam đăng năm 2015 thiên về nhiễm,
nội khoa, và vi sinh, không khác biệt lắm so với 10 năm trước (2005). Điều này
gợi ý không có sự đầu tư vào những chuyên khoa khác hoặc hướng đi khác trong việc
nghiên cứu y khoa tại Việt Nam. So sánh Thái Lan năm 2005 và năm 2015 cho thấy
sự thay đổi về cả chất và lượng. Những bất cập trên nếu không giải quyết kịp thời
sẽ ngăn chặn sự cải tiến liên tục và tiến bộ cũng như chất lượng chăm sóc y tế
tại quốc gia này so với sự vượt trội của các quốc gia khác.
Mọi gánh nặng đặt hết lên vai bác sĩ
Tạm kết:
Nhìn chung, BHYT là một chính sách quan
trọng để bảo đảm an sinh xã hội, tham gia vào chống đói nghèo do bệnh tật gây
ra. BHYT cũng là một nguồn tài chính rất quan trọng dành cho chăm sóc sức khỏe
nhất là khi tình hình ngân sách của Nhà nước không đủ để bao cấp hoàn toàn cho
chăm sóc sức khỏe. BHYT là sự chia sẻ, cưu mang hữu hiệu nhất giữa người có điều
kiện và người khó khăn. BHYT là một giải pháp ưu việt trong một hệ thống chăm
sóc sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, Nhà nước cần có những giải pháp để khắc phục
các hạn chế, bất cập còn tồn tại mà tôi đã trình bày để ngày càng hoàn thiện
các quy định của pháp luật và hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân, bảo đảm công bằng
trong chăm sóc sức khỏe. Cần tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính để huy động đủ
kinh phí; điều chỉnh giá dịch vụ y tế hưởng bảo hiểm y tế theo hướng tính đúng,
tính đủ các chi phí trực tiếp phục vụ bệnh nhân, làm cơ sở để quỹ bảo hiểm y tế
thanh toán, bảo đảm quyền lợi cho người bệnh; giá dịch vụ cũng phải phù hợp với
khả năng chi trả của người bệnh; đồng thời, nên chuyển cơ chế cấp kinh phí từ
ngân sách nhà nước cho cơ sở cung ứng dịch vụ sang người tham gia bảo hiểm y tế.
[1] Sau đây khái niệm
Công dân, người dân sẽ được hiểu là những đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm
y tế tại Điều 12, Luật bảo hiểm y tế
2008, sửa đổi bổ sung năm 2014
[2] Bảo hiểm y tế:
Sau đây sẽ được viết tắt là BHYT



0 nhận xét:
Đăng nhận xét